TỰ HỌC CHƠI ĐÀN BẦU

Đăng lúc: Thứ hai - 18/05/2015 05:06 - Người đăng bài viết: thyanhadmin
LH:0919.855366

LH:0919.855366

TỰ HỌC CHƠI ĐÀN BẦU

          TÀI LIỆU TỰ HỌC ĐÀN BẦU

                    Đàn bầu ( theo Tài liệu của Võ Thanh Tùng)

         Giới thiệu sơ lược: Đàn Bầu (còn gọi là Ðàn Ðộc huyền) là loại đàn một dây của dân tộc Việt và một số dân tộc khác như Mường (Tàn Máng), dân tộc Chăm (Rabap Katoh), theo sách Ðại Nam Thực Lực Tiền Biên, trang 236, quyển 11 của Nhà xuất bản Sử học- Hà Nội 1962- Ðàn Bầu được chế tạo năm 1770.
Xếp loại: Đàn Bầu là nhạc khí dây gảy loại không có dọc (cần đàn), do người Việt Nam sáng tạo ra. Ðàn Bầu là nhạc khí phổ biến tại Việt Nam.
Hình thức cấu tạo:   Có hai loại Ðàn Xẩm và Ðàn Bầu chuyên nghiệp, theo GSTS.Tô Ngọc Thanh. Ðàn Xẩm là loại đàn chỉ gồm một nửa ống tre bổ dọc, một cọc nắn âm và không có bầu, đánh bồi âm(không đánh thực âm). Ðàn Bầu chuyên nghiệp được cấu tạo như sau:
Thân đàn:Ðàn Bầu hình hộp dài, đầu đàn hơi cao và thuôn hẹp hơn cuối đàn. Mặt đàn bằng gỗ hơi phồng lên, chung quanh thành đàn làm bằng gỗ cứng. Ðáy kín nhưng có khoét lỗ vuông ở cuối đàn, dùng để mắc dây và thoát âm.
Vòi đàn(cần đàn): Phía đầu đàn có một cọc tre cắm từ mặt đàn xuống đáy gọi là vòi đàn. Ðầu vòi đàn nhỏ dần và uốn cong tròn về phía trái ngoài đầu đàn. Có người vót sừng trâu làm vòi đàn. Trước khi cắm vòi đàn vào mặt đàn, người ta cho nó xuyên ngang qua bầu cộng hưởng.
Bầu cộng hưởng: Ðàn Bầu là một vỏ cứng của quả bầu, có nơi thay bằng gáo dừa và ngày nay bầu cộng hưởng được làm bằng gỗ. Một sợi dây có độ đàn hồi tốt căng từ đầu của hộp đàn kéo dài tới cần (vòi) đàn chỗ cắm qua vỏ bầu cộng hưởng. Từ nơi mắc dây đến vòi đàn tạo góc 30o. Như vậy là đầu dây mắc chéo xuống chứ không song song với thân đàn như một số nhạc cụ, đặc biệt đàn chỉ duy nhất một dây và không có các phím. Ðàn Bầu điện có gắn thêm một bộ phận cảm âm điện tử, nối liền với bộ phận khuyếch đại của máy tăng âm và loa
Dây đàn: Dây kim khí mắc từ trục lên dây, chui qua một lỗ nhỏ ở cuối mặt đàn, kéo chếch lên buộc vào vòi đàn, chỗ miệng loe của bầu cộng hưởng.
Bộ phận lên dây: Một trục gỗ xuyên ngang hai bên thành đàn (ở phía cuối thân đàn) gắn một bộ phận lên dây bằng kim loại để mắc dây và lên dây. Bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị chùng xuống.
Que gảy đàn: Là một cái que nhỏ, ngắn và nhỏ hơn chiếc đũa, đầu vót nhọn hoặc hơi tròn tùy yêu cầu biểu diễn. Que gảy đàn trước đây làm bằng tre, nay làm bằng cây Giang (họ tre mây). Nếu que gảy cứng quá hay bị vấp, còn mềm quá thì dễ gãy. Que gảy ngắn: tiếng mềm mại, trữ tình khi Tremolo ở một bậc cao hay trên cùng một phím thì tiếng đàn nét rõ hơn. Que gảy dài: tiếng thô nhưng khỏe và chắc, đầy đặn.
Bộ phận khuyếch đại: Bầu cộng hưởng sau này của Ðàn Bầu được thay thế bằng gỗ chứ không bằng ống bương và vỏ quả bầu khô như trước. Một bộ phận cảm âm điện tử (Bobine électronique) được đặt trong đàn, gần chỗ mắc bộ phận lên dây, từ bộ phận cảm âm này sau đó được nối liền vào bộ phận khuyếch đại âm thanh điện tử (máy tăng âm và loa) để phát ra tiếng Ðàn Bầu.
Các điểm nút trên đàn Bầu:     Ðàn Bầu không có phím nên điểm nút được coi như cung phím của Ðàn Bầu. Chiều dài của dây đàn là đoạn AB, điểm O ở chính giữa. Nếu lên dây đàn theo giọng Ðô thì khi gảy và chạm tay vào điểm O này (điểm nút) âm thanh phát ra sẽ là âm Ðôlần lượt từ O đến A ta có:
* Ðiểm nút 1 (AB/3) âm bội là Sol 1
* Ðiểm nút 2 (AB/4) âm bội là Ðô 2
       * Ðiểm nút 3 và 3' (AB/5) âm bội là Mi 2
* Ðiểm nút 4 (AB/6) âm bội là Sol2
* Ðiểm nút 5 (AB/7) âm bội là Sib2
* Ðiểm nút 6 (AB/8) âm bội là Ðô3
Có thể đánh vào điểm nút 7 (AB/9) có âm bội Rê, điểm nút 8 (AB/10) để có âm bội Mi.....Nhưng không cần thiết vì đánh vào những nút đó, tay dễ bị vướng vào loa bầu, nghệ nhân có thể đánh vào điểm nút 6 rồi uốn căng vòi đàn để đạt những âm cao hơn âm bội ở điểm nút 6. Từ O đến B cũng có các điểm nút lần lượt đối xứng với các điểm nút từ O đến A nhưng ít khi dùng tới.
Tầm âm: Ðàn Bầu rộng 5 quãng tám từ La-2 đến Sol3 (a-2 đến g3),  sử dụng âm bồi nên màu âm của Ðàn Bầu ngọt ngào, quyến rũ. Âm lượng của Ðàn bầu nhỏ để phục vụ được nhiều người, người ta đã khuyếch đại âm thanh bằng cách điện tử hóa và đã đạt được thành công là âm thanh Ðàn Bầu vang to mà vẫn giữ được màu âm độc đáo.
Tính chất âm thanh và hệ thống định âm của Ðàn Bầu: Cùng trên cây Ðàn Bầu, không phải chỉ có một lối phát âm như các nhạc cụ khác mà có 2 lối phát âm đó là: thực âm và bội âm như sau:
Phương pháp cấu tạo âm thanh đã có ngay từ đầu khi sáng chế ra cây đàn, khi vòi đàn ở vị trí tự nhiên, tay phải ta gảy que chạm vào dây ở bất cứ điểm nào trên dây, âm thanh được phát ra chính là âm thanh mà ta đã định ban đầu khi mắc dây và lên dây. Sau đó cũng như vậy ta thay đổi các vị trí của vòi đàn, nắn vòi rồi gảy dây tại bất kỳ điểm nào thì ta lại được các cao độ khác nhau tương ứng với vị trí của vòi đàn (hay độ căng giãn của dây đàn). Như vậy cao độ của âm thanh chỉ thay đổi khi thay đổi vị trí vòi đàn và vị trí gảy dây đàn mà không hề ảnh hưởng tới âm thanh phát ra, phương pháp cấu tạo âm thanh thực âm không tận dụng được các vị trí khác nhau trên dây đàn để tạo ra các cao độ khác nhau nên có phương pháp tạo âm thanh là bồi âm.
Bồi âm: Người biểu diễn dùng tay mặt tì nhẹ vào một điểm quy định nào đó (những điểm nút của dây) rồi gảy nhẹ vào dây, khi dây phát ra âm thanh thì tay phải kịp thời nhấc lên, âm thanh phát ra là bồi âm. Cứ lần lượt như vậy nghệ sĩ biểu diễn sẽ gảy các vị trí quy định khác nhau trên dây và được các cao độ khác nhau theo quy luật nhất định của luật âm thanh là bồi âm, và tiếp tục sử dụng tay trái thay đổi vị trí của vòi (cần đàn) ta được cả một hệ thống âm thanh đó là âm vực của Ðàn Bầu.
Âm bồi thứ hai : Các nghệ nhân đã tạo ra âm bội thứ hai mà không gảy đàn thêm cũng không uốn vòi đàn. Gảy vào một điểm nút nào đó, âm thanh phát ra, khi tiếng đàn còn ngân nghệ nhân dùng cạnh bàn tay đưa nhanh chạm nhẹ vào điểm nút khác để có được âm dự định rồi nhấc tay ra ngay. Màu âm của tiếng đàn thứ hai này trong sáng, bay nhưng hơi mảnh, gây cảm giác bâng khuâng, xa xôi.
Cách ghi âm bồi thứ hai : Trước hết ghi nốt nhạc phải gảy với độ ngân quy định, tiếp theo dùng dấu luyến bắt sang một nốt khác, nốt này là âm bội thứ hai (cũng cần ghi theo độ ngân quy định). Trên đầu nốt nhạc có một dấu tròn nhỏ.
Kỹ thuật diễn tấu:
Ngồi: đàn được đặt trên giá cao ngang tầm tay, người đàn ngồi trên ghế.
Ðứng: đàn được đặt trên giá cao và nghệ nhân đàn với tư thế đứng
Kỹ thuật tay phải:Tay phải hơi khum lại, ngón trỏ và ngón cái khép lại và kẹp một chiếc que gảy. Khi gảy bàn tay mở ngược lên, lòng tay hướng lên trên, cạnh bàn tay tì nhẹ lên dây đàn đúng vào vị trí các phím đàn. Sau khi gảy dây: bằng sự va chạm giữa dây đàn và que gảy sẽ tạo nên một âm thanh, ngay khi đó bàn tay phải nhanh chóng nhấc ngay lên. Vị trí nốt trên Ðàn Bầu có thể được đánh dấu nhưng vì dây đàn được mắc cao hơn thân đàn và chéo góc nên độ chính xác không bằng các đàn có ngăn phím hẳn hoi. Như vậy người nghệ sĩ Ðàn Bầu phải kết hợp cả mắt và tai nghe nữa, nhất là khi diễn tấu tác phẩm có tốc độ nhanh thì nhất thiết phải có sự kết hợp hài hòa và chính xác. Một điều nữa tay phải còn phải điều chỉnh độ mạnh, nhẹ, âm thanh cứng hay mềm (đó là sự điều tiết cường độ và sắc thái của tiếng đàn)
Gảy âm tự nhiên: Cách đàn không sử dụng âm bồi, nghệ nhân khi gảy vào dây (ở bất cứ điểm nào trên dây mà muốn cho âm thanh không bị rè, ta nên gảy sát về phía quả Bầu) đồng thời tay trái uốn cong vòi đàn (động tác nhanh, dứt khoát, chính xác tiếng đàn mới đẹp, tránh âm thanh kêu nhõng nhẽo) để có âm thanh như ý muốn
Ngón vê: Là kỹ thuật gảy hai chiều (hất lên và gảy xuống) bằng que gảy, thường thực hiện ở những âm ngân dài, Vê diễn tả tình cảm vui tươi, phấn khởi.
Kỹ thuật tay trái: Tất cả kỹ xảo của bàn tay trái chủ yếu dồn vào sử dụng sao cho thật khéo léo và nhuần nhuyễn chiếc cần đàn (vòi đàn), tay trái định âm bằng kỹ thuật sử dụng vòi đàn (cần đàn) làm cho dây đàn chùng xuống hay căng lên theo ý muốn.
Ngón luyến: Khi gảy xong một tiếng đàn, không gảy thêm mà dùng bàn tay trái kéo vòi đàn (cần đàn) lên hoặc xuống tạo ra các nốt khác nhau gọi là luyến.
Ngón nhấn: Khi gảy một tiếng đàn, đồng thời cùng một lúc dùng bàn tay trái chủ yếu là ngón tay cái và ngón trỏ ép sao cho cần đàn từ vị trí bình thường đổ ra (nhấn ra theo hướng tay trái) với mục đích làm căng dây đàn tới mức độ nhất định để tạo ra các âm cao độ khác theo ý muốn hoặc không có ở phím đàn trên dây. Ngón nhấn sử dụng trên đàn để định âm các quãng 2 thứ, quãng 2 Trưởng, quãng 3 Trưởng, quãng 3 thứ, quãng 4 đúng so với nốt cố định của điểm đàn (khi nhấn ra chỉ đến quãng 4).
Ngón chùng:(nhấn vào) ngược lại ngón nhấn là ngón chùng, là khi gảy xong một tiếng đàn, dùng bàn tay trái, chủ yếu là lực ngón trỏ và các ngón khác uốn vòi (cần đàn) nhấn vào theo hướng tay mặt cho dây chùng lại với mục đích tạo những âm có cao độ thấp hơn âm vừa gảy mà không thực hiện bằng điểm nút. Ví dụ gảy âm Sol1 ở điểm nút 1 rồi muốn có âm thấp hơn là Fa1, Mi1, Rê1 : nghệ nhân uốn vòi đàn cho chùng dây xuống để các âm đó vang lên. Ðây là điểm độc đáo nhất chỉ có ở Ðàn Bầu và Ðàn Ðáy là có thể tạo ra được các âm có cao độ thấp hơn so với âm trên phím đàn tạo ra, ngay các nhạc cụ cổ điển và hiện đại quốc tế cũng ít có trường hợp này. Nghệ nhân có thể đánh ngón chùng xuống 3. 4 cung. Ngón chùng sử dụng trên các Ðàn Bầu có vòi đàn và dây đàn có sức đàn hồi tốt, có thể đánh được từ quãng 8 trở lại, nhưng đa số là chùng xuống quãng 5 so với nốt trên phím.
Ngón rung:Là khi tay phải gảy dây, các ngón tay trái rung nhẹ với vòi đàn, làm âm thanh phát ra như làn sóng cao thấp hơn âm chính một chút không đáng kể. Kỹ thuật ngón rung là sử dụng cả ngón nhấn và chùng trên vòi (cần đàn) với tốc độ rất nhanh (có thể tạo hiệu quả tương đối giống như "vibrato" của các nhạc cụ dây khác). Rung làm tiếng đàn ấm áp, mềm mại, đầy đặn và tùy loại rung mà tạo ra phong cách diễn tấu các Hơi Bắc, Hơi Nam...Ngón rung thường chỉ nhấn và chùng quãng 2 (ít khi quãng 3) so với nốt chính được tạo ra ở trên phím đàn (nốt chính phải có độ ngân tương đối dài).
Ngón giật: Sau khi gảy một âm, sử dụng kỹ thuật nhấn nhanh làm âm thanh thứ hai phát ra đột ngột, gây ấn tượng khẩn trương, sửng sốt, thường giật từ âm thấp lên âm cao.
Ngón vỗ: Còn gọi là đập, dùng ngón tay trái đập nhẹ, nhanh và dứt khoát vào vòi đàn làm âm thanh phát ra đứt đoạn nghe như những tiếng nấc, có thể vỗ vào 3 lần trên một âm, thường là những âm ngân dài để diễn tả tình cảm đau khổ, uất ức, nghẹn ngào. Ngón vỗ chỉ sử dụng âm thanh ở điểm nút O, như vậy ngón tay mới rảnh để vỗ.
Vị trí Ðàn Bầu trong các Dàn nhạc: Người Việt thường sử dụng Ðàn Bầu để độc tấu, đệm cho ngâm thơ, tham gia trong Ban nhạc Tài Tử, Ban nhạc Xẩm. Gần đây Ðàn Bầu tham gia trong 
Dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp, Dàn nhạc Giao hưởng Dân tộc, Dàn nhạc Sân khấu ChèoCải Lương. Ðặc biệt đã có những tác phẩm viết cho Ðàn Bầu độc tấu cùng Dàn nhạc Giao hưởng.

Châu Á cũng có nhiều nhạc khí khác cùng một dây như Nhật Bản có đàn một dây gọi làIchigenkin khi đánh dùng bloc chặn trên dây tạo âm cao thấp. Trung Quốc có Ðàn Ixian qin (Nhất huyền cầm) một dây dùng ngón của tay trái nhấn lên dây, ở Ấn Ðộ có Ðàn Gopiyantra và ởCampuchia có Ðàn Sadev. Tất cả các nhạc khí trên đều dùng thực âm, riêng Ðàn Bầu Việt Nam chuyên dùng bồi âm. Ðàn Bầu chỉ một dây mà phải gảy ngay nút giao động để tạo ra bồi âm rồi nhờ vòi (cần đàn) mà làm cho độ cao của bồi âm thay đổi. Khác hẳn Ixian qin (Nhất huyền cầm) của Trung Quốc hay Ichigenkin của Nhật, cũng một dây như Ðàn Bầu mà cách đàn khác, tay trái nhấn lên dây, làm cho khúc dây giao động ngắn dài để tạo ra giọng cao thấp của tiếng đàn, khác với Ðàn Sadew của Campuchia cũng một dây mà không dùng bồi âm.

Đàn bầu và kĩ thuật - 2

Cây đàn bầu nhạc cụ độc đáo của dân tộc
Trong kho tàng văn hoá âm nhạc dân tộc Việt Nam, đàn bầu được coi là nhạc cụ độc đáo và hấp dẫn nhất. Tiếng đàn du dương, trầm lắng khiến ai đã nghe một lần thì thật khó quên. Chẳng thế mà các cụ ngày xưa đã kín đáo nhắc nhủ: "Làm thân con gái chớngheđànbầu"
"Cung thanh là tiếng mẹ, cung trầm là giọng cha. Ngân nga em hát, tích tịch tình tang"

Dường như âm thanh mộc mạc, chân quê nhưng sâu lắng đến vô cùng của cây đàn bầu, hoà quện với tấm lòng của tác giả đã tạo nên những vần điệu chất chứa trong bài hát ru ấy. Điều gì đã kiến cho cây đàn bầu có sức quyến rũ độc đáo đến như vậy?

Có nhiều cách giải thích khác nhau về sự xuất hiện của cây đàn bầu trong kho tàng văn hoá dân gian. Chỉ từ trò chơi trống đất của trẻ em đồng bằng Bắc bộ là đào hố và căng dây qua lỗ đất, khi đập nghe tiếng bung bung mà các cụ ngày xưa đã cho ra đời nhạc cụ mang tên đàn Bầu, được làm từ ống tre và quả bầu khô. Từ thời nhà Lý, đàn Bầu đã xuất hiện, nhưng thời ấy nhạc cụ này chỉ được dùng để đệm cho những người hát xẩm. Thời gian qua đi cây đàn dần được cải tiến, đàn được làm từ những chất liệu tốt hơn như gỗ, sừng. Ông Đỗ Văn Thước, một nghệ nhân làm đàn Bầu nói "cuộc sống và mọi sinh hoạt của nông dân Việt Nam đều bắt nguồn từ cây tre: ống nước, ống cơm, rổ rá, đòn gánh, Bởi vậy, để bảo vệ bụi tre họ lấy dây rừng buộc quanh gốc tre, thấy âm thanh phát ra từ đó như những cuộc giao lưu tình cảm khiến người nông dân xưa nghĩ đến việc hạ tre thành cọc căng dây tơ cho âm thanh hay hơn, rồi sử dụng vỏ quả bầu dài làm hộp cộng hưởng". Song có lẽ tất cả cũng chỉ là những giả thuyết. Còn thực tế thì cây đàn bầu đã gắn bó với làng quê con người Việt Nam từ bao đời nay còn chưa ai biết.

Cái độc đáo ở đây là cây đàn cấu trúc rất đơn giản. Chỉ với một dây nhưng nó diễn tả được mọi cung bậc của âm thanh và tình cảm. Âm thanh cũng mang sức quyến rũ lạ kỳ, gần với âm điệu tiếng nói của người Việt, bởi vậy mà đàn Bầu trở thành nhạc cụ được mọi người ưa thích.

Để có được cây đàn như ý, người làm đàn phải rất công phu trong việc chọn lựa chất liệu. Cây đàn phải hội đủ hai yếu tố "Mặt ngô thành trắc", có nghĩa là mặt đàn phải làm bằng gỗ cây ngô đồng sao cho vừa xốp vừa nhẹ, thớ gỗ óng ả, thẳng thì mới có độ vang. Khung và thành đàn làm bằng gỗ trắc hoặc gụ, vừa đẹp lại vừa bền. Cần rung, còn gọi là vòi đàn được làm từ sừng trâu. Bầu đàn được lấy từ quả bầu khô hoặc tiện bằng gỗ.

Cũng có nhiều ý kiến khác nhau trong vấn đề cấu tạo cây đàn. Người thì cho rằng nên kéo dài đàn ra để có được tiếng trầm hơn hoặc đổi đàn bầu thành hai dây (một cao, một thấp), hai cần và mở to thùng đàn ra, nhưng cuối cùng tất cả đều không phù hợp. Việc dùng vòi đàn để căng dây lên hoặc hạ chùng dây xuống đã tạo ra nhiều âm thanh và cao độ khác nhau. Cần đàn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sắc độ âm thanh khác nhau và làm cho tiếng đàn tròn, mượt. Mặt đàn với thới gỗ óng ả, khi kết hợp với hộp cộng hưởng sẽ tạo nên những âm thanh vang, trong. Đàn còn được trang trí nhiều hoa văn hoặc khảm trai với các hình ảnh miêu tả cảnh sinh hoạt phong phú của người dân Việt Nam. Ngày nay người ta thường có xu hướng thay thế đàn gỗ bằng đàn điện, kéo dài và làm mỏng thân đàn để tạo âm trường và tiếng vang hơn.

Đàn Bầu thể hiện một cách thành công những làn điệu dân ca khác nhau của từng vùng, từng miền của dân tộc. nó còn có thể diễn tấu rất hay những giai điệu của nước ngoài, từ nhạc dân gian đến nhạc nhẹ.

Phải trăng vì sự độc đáo có một không hai của cây đàn Bầu mà mỗi khi nhắc đến Việt Nam, nhiều khác nước ngoài đã cây đàn bầu như một biểu tượng của Việt Nam "Đất nước đàn Bầu". "Quê hương đàn Bầu". Nhà thơ nữ người Pháp MeRay đã thốt lên: "Cây đàn Bầu thật giống với con người Việt Nam. Nghèo của cải mà giàu lòng nhân ái, giản dị mà thanh tao, đơn sơ mà phong phú".
1-Ngón Á: Ví dụ Ðàn Tranh: là cách lướt trên hàng dây xen kẻ các câu nhạc, ngón Á thường ở phách yếu để chuẩn bị vào phách mạnh đầu hay cuối câu nhạc, có 3 loại ngón Á:
Á xuống: gảy nhiều âm liền bậc từ 1 âm cao xuống thấp. Á lên: vuốt lên bằng ngón 2. 3 từ âm thấp lên cao. Á vòng: kết hợp Á lên và Á xuống.
Trong âm nhạc cổ truyền, ngón Á xuống là cơ bản.
2-Ngón Bịt (pizzicato): là làm cho âm thanh vừa vang lên liền tắt một cách đột ngột, tạo sự thay đổi màu âm, diễn tả sự nghẹn ngào, có 2 cách thể hiện:

sử dụng bàn tay hoặc ngón tay vừa gảy chặn ngay dây đàn.
sử dụng bàn tay phải ở ngay thân ngón út chặn ngang ngựa đàn tạo một âm tối, tương tự sử dụng bộ hãm tiếng (sourdine)
Ví dụ Ðàn Tranh: ngón bịt là cách vừa dùng ngón tay phải gảy dây, vừa dùng đầu ngón tay trái đặt nhẹ lên dây đàn, hoặc chặn tay trái lên đầu nhạn đàn, nếu là gảy một nốt nhạc. Còn nếu định gảy hẳn một nốt nhạc với toàn âm bịt, nghệ nhân dùng cạnh bàn tay phải chặn nhẹ lên cầu đàn, dùng tay trái gảy thay tayphải 
3-Bồiâm(Flagiolletto):
a-Âm bồi tự nhiên: nhấn nhẹ tay lên dây đàn, cao độ đúng như nốt ghi, nhưng màu sắc thay đổi hẳn, ký hiệu số (o) trên nốt.
b-Âm bồi nhân tạo: tạo ra bằng các dây bấm, có ưu điểm sử dụng được nhiều nốt.
Ví dụ Ðàn Tranh: âm bồi có thể đánh trên tất cả các dây, nhưng chỉ nên đánh trong khoảng âm giữa, âm dưới và nên đánh những âm bồi quãng 8. Cách đánh là dùng ngón tay trái chặn vào đoạn dây đàn thích hợp kể từ cầu đàn đến nhạn đàn trong khi tay phải gảy dây đó.
4-Ngón gõ: Ví dụ Ðàn Nguyệt: là ngón sử dụng ngón tay phải gõ vào mặt đàn, thường sử dụng khi các nhạc khí đều nghỉ (dấu lặng) hoặc để báo hiệu cho hát, hoặc hòa tấu, hoặc điểm giữa    cáccâunhạc,đoạnnhạc.
5-Ngón giật: Ví dụ Ðàn Bầu: gây ấn tượng đau xót, uất ức... Ký hiệu để chỉ ngón giật là 1 vạch thẳng nối từ nốt chính sang nốt phụ, khi dây căng hoặc chùng vừa đến cao độ của nốt phụ thì chặn dây lại ngay.
6-Dấu luyến dịu hay dấu láy chùm (gruppetto): là một nhóm ba hay bốn nốt theo sau hay đứng trước nốt chính, nó được viết bằng nhiều nốt nhỏ hay bằng một trong hai ký hiệu sau đây:
7-Dấu láy ngắn (nốt dựa ngắn): gồm một vài âm biểu diễn rất nhanh, tính vào trường độ âm đi trước hoặc sau nó, được ký hiệu bằng nốt nhỏ dạng móc đơn có vạch chéo.
8-Dấu láy dài (nốt dựa dài): Dấu láy dài không bị gạch chéo, bằng trường độ một nửa nốt nối với nó.
Dấu láy (+): của nhạc khí Hơi là dấu láy lên một cung (Ví dụ: Sáo, Tiêu).
9-Dấu láy nhanh hay âm vỗ hoặc ngón vỗ (Mordente): là một ký hiệu để chỉ khi diễn cần phải láy thật nhanh 2 nốt gần nhau. Nốt thứ nhất cùng cao độ với nốt chính và nốt thứ hai ở trên hay ở dưới một cung hay nửa cung. Âm vỗ được cấu tạo bằng âm thêu, âm thêu là bậc kề bên cách âm cơ bản của giai điệu một nửa cung hay một cung đi lên hoặc đi xuống. Âm hình giai điệu của âm vỗ gồm ba âm: âm cơ bản, âm thêu và âm cơ bản:
Ví dụ Ðàn Bầu: ngón vỗ là kỹ thuật dùng tay trái đập nhẹ, nhanh và dứt khoát vào vòi đàn làm âm thanh phát ra nghe đứt đoạn như tiếng nấc, có thể vỗ vài ba lượt trên một âm, thường là những âm dài để diễn tả tình cảm.
Ví dụ Ðàn Tranh: ngón vỗ là cùng một kiểu ngón nhấn, nhưng đúng như tên gọi, đây là một cách dùng hai hay ba đầu ngón tay (ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út) vỗ lên một dây nào đó (phía bên trái nhạn đàn, vừa được tay phải gảy) và nhấc ngay các ngón tay lên, làm âm thanh cao lên đột ngột từ 1/2 cung đến 1 cung. Có hai loại vỗ:
Vỗ đồng thời: tức là cùng một lúc tay phải gảy dây, tay trái vỗ, sẽ nghe 2 âm: một âm phụ cao hơn 1/2 cung (hoặc 1 cung) luyến nhanh ngay xuống âm chính (âm phụ đó do ngón tay trái vỗ tạo nên), âm thứ hai là âm chính của dây đàn. Ðộ ngân của âm vỗ có thể nằm trong độ ngân của âm chính sau đó.
Vỗ sau: tay phải gảy dây xong, tay trái mới vỗ lên dây, như vậy sẽ nghe 3 âm luyến nhau: âm thứ nhất do tay phải gảy trên dây, âm thứ hai do ngón vỗ tạo nên, âm này cao hơn âm thứ nhất khoảng 1/2 cung (hoặc 1 cung); và tiếp đó âm thứ ba là âm do ngón tay vỗ xong nhấc lên ngay, dây đàn được trở lại trạng thái cũ, âm thanh còn lại vang lên theo độ căng của dây đó lúc đầu.
10-Dấu láy rền (trille): là âm hình giai điệu gồm hai âm cơ bản và thêu luân phiên nhau nhanh và đều. Trường độ của âm hình láy rền bằng trường độ của âm được láy. Dấu dùng để ký hiệu láy rền được đặt trên nốt nhạc.
11-Dấu luyến: (legato): Thủ pháp lê-ga-tô là cách biểu diễn sao cho các âm quyện với nhau và ký hiệu bằng một đường vòng cung. Dấu luyến (legato) đặt trên hoặc dưới những nốt nhạc cần biểu diễn luyến âm.
12-Ngón nhấn: là dùng ngón bấm nhấn dây xuống để tạo hiệu quả tiếng đàn cao hơn, những chữ Xư, Xang, Công non, Oan trong các bài bản Nam đều có dùng kỹ thuật nhấn này và nhấn cao hơn 1/2 cung.
Ví dụ Ðàn Tranh: ngón nhấn là cách để đánh thêm những âm khác, có thể là 1/2 âm, 1/3 âm, 1/4 âm mà hệ thống dây Ðàn Tranh không có, cách nhấn là dùng ngón ba đầu ngón tay trái nhấn dây xuống từng yêu cầu từng bài (1/2 cung nhấn nhẹ, 1 cung nặng tay hơn), ví dụ Ðàn Tranh chỉ có những dây: Ðô, Rê, Fa, Sol, La, Ðô, muốn đánh âm Mi hay Si: nhấn trên dây Rê sẽ đạt âm Mi.
Ví dụ Ðàn Nguyệt: trên một cung, dùng ngón tay trái bấm nhấn dây đàn xuống để tạo ra âm thanh có cao độ khác nhau so với âm tự nhiên của cung đó gọi là nhấn.
13-Ngón nhấn mượn nốt: là ngón nhấn để đạt âm thanh mềm mại.
Ví dụ Ðàn Tranh: muốn đánh âm La, không sử dụng dây La mà mượn dây Sol (cạnh dây La), trường hợp này gọi là mượn nốt hay mượn cung. Âm La nghe mềm mại, dịu dàng hơn âm La đánh trên dây La. chú ý thường chỉ mượn những dây có âm thấp liền bậc với âm vang lên, không mượn những dây quá xa.
14-Ngón nhấn luyến: là nhấn từ 1 âm này đến 1 âm khác có cao độ cao hoặc thấp hơn âm khởi đầu, tất cả đều thực hiện trên cùng 1 ngăn đàn, hiệu quả nhấn luyến gần với luyến tạo âm thanh mềm mại, liền lạc. Ngón nhấn luyến gồm có nhấn luyến lên và nhấn luyến xuống.
Nhấn luyến lên: Ví dụ Ðàn Tranh: muốn đánh âm nhấn luyến lên, nghệ nhân gảy đàn vào một dây (ví dụ dây La) để vang lên âm đó rồi dùng ngón tay trái nhấn dần lên dây đó (bên trái nhạn đàn) làm âm thanh cao lên một cao độ nào đó, hoặc nhấn tiếp tục cho âm thanh cao lên nữa.
Nhấn luyến xuống: Ví dụ Ðàn Tranh: muốn có âm luyến xuống phải mượn nốt, ví dụ muốn có âm Fa luyến xuống Rê, phải mượn dây Rê nhấn mạnh trước rồi mới gảy sau, khi âm Fa vang lên, ngón tay trái nới dần ra để âm Rê vang theo. Ðánh âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống, chỉ cần gảy một lần thôi, độ ngân của các âm nhấn luyến được ghi như các nốt nhạc bình thường.
15-Ngón nhấn láy hoặc ngón nhún: là kết hợp vừa ngón nhấn và ngón láy, Ví dụ đàn Tranh: ngón nhún là cách nhấn liên tục trên một dây nào đó làm cho âm thanh cao lên không quá một cung liền bậc, ngón nhún tạo thành làn sóng có dao động lớn hơn ngón rung, tạo âm thanh mềm mại, sâu lắng (nhạc Huế thường sử dụng ngón nhún).
16-Ngón rung: Ví dụ Ðàn Nguyệt: có hai kiểu rung: rung dọc và rung ngang
Rung dọc (rung gân ngoài): cách rung là lay nhẹ đầu ngón tay bấm trên dây, động tác này rất gần với cách rung của Ðàn Nhị hoặc Violon. Rung ngang (rung dây trong): cách rung này là đặt ngón tay xuống cung đàn, dùng gân ngón bấm vít dây xuống rồi lại thả ra đều đặn cho đến hết trường độ của nốt nhạc. Khi vít dây nông, rung nhanh và đều đặn và tương đối nhanh gọi là rung mượt. Khi vít dây sâu, rung hơi chậm và gợn sóng tạo ra đợt sóng rõ ràng, ngân vang nhưng hơi chậm gọi là rung hột. Ðối với những âm rung thường xuyên có tính chất bắt buộc như Xự và Cống trong hơi Bắc, Xang, Oan trong hơi Nam, tùy theo trình độ và thói quen, người ta có thể xử lý chữ nhạc rung theo mức độ khác nhau.
Ví dụ Ðàn Tranh: ngón rung là cách dùng một, hai hoặc ba đầu ngón tay trái rung nhẹ trên sợi dây đàn (về phía bên trái) mà tay phải vừa gảy, ngón rung làm âm thanh phát ra được ngân dài, vang hơn, độ cao của âm thanh thay đổi không đáng kể, độ ngân của ngón rung tùy theo độ dài của nốt nhạc.

17-Ngón nhấn rung: kết hợp giữa nhấn và rung, ví dụ: xang và Oan trong Hơi Nam.
18-Ngón ngắt (staccato): thủ pháp Staccato là cách biểu diễn ngắn ngọn âm thanh của giai điệu hoặc của hợp âm. Thủ pháp Staccato ký hiệu bằng dấu chấm, đặt trên đầu nốt nhạc hoặc dưới nốt nhạc.
19-Sử dụng miếng gảy: đánh xuốngchữ U ngược) hất lên: V
20-Ngón vuốt (glissando): là ngón chạy từ nốt cao xuống thấp hay từ thấp lên cao.
Ví dụ Ðàn Bầu: ngón vuốt của Ðàn Bầu được sử dụng thường xuyên, khi vuốt lên hay vuốt xuống vẫn dùng ngón cái và ngón trỏ để căng dây hoặc chùng dây bình thường, chỉ khác là phải vừa kết hợp căng và chùng dây, vừa miết ngón vào vòi để cao độ được trượt qua tất cả các âm và dừng lại ở âm qui định trên bản nhạc.
Ví dụ Ðàn Tranh: ngón vuốt Ðàn Tranh là tay phải gảy đàn, tiếp theo dùng 2, 3 ngón tay trái vuốt trên dây đàn đó(từ nhạn đàn ra trục dây hay ngược lại) làm tăng sức căng của dây một cách đều đều, liên tục. Âm thanh được nâng cao dần lên trong phạm vi 1/2 cung đến 1 cung.
[IMG][/IMG]
Ví dụ Ðàn Nguyệt: ngón vuốt của Ðàn Nguyệt cũng giống như cách vuốt của các đàn khác, nhưng ở Ðàn Nguyệt khi bấm để vuốt rất dễ lạc tiếng vì dây đàn có độ co giãn khá lớn.
Vuốt từ âm thấp lên cao: móng gảy đánh vào âm thứ nhất (âm thấp) vừa dứt thì ngón bấm tay trái vuốt trên dây di chuyển trên ngăn đàn của nốt có âm cao với mức độ đều đặn, tốc độ di chuyển tùy vào trường độ của nốt. Vuốt từ âm cao xuống thấp: cũng vậy móng gảy đánh vào âm thứ nhất (âm cao) vừa dứt ngón bấm tay trái di chuyển đến ngăn của nốt có âm thấp.
 
21-Ngón vê: Ví dụ Ðàn Bầu: ngón vê của Ðàn Bầu là khi đang gảy chuyển sang ngón vê, phải chuyển thế cầm que gảy từ 3 ngón sang 2 ngón (ngón cái và ngón trỏ). Sau đó úp bàn tay xuống dây đàn sao cho điểm cạnh của bàn tay phải (ngay sát cổ tay) chạm vào dây ở điểm gút. Sau đó bật liên tục đầu que đàn vào điểm gảy của dây với tốc độ thật nhanh và biên độ hẹp, kết quả sẽ tạo hiệu quả vê như nhạc khí gảy, chỉ khác ở Ðàn Bầu là thường vê âm bội, không vê âm thực như các nhạc cụ khác.

Ví dụ Ðàn Nguyệt: ngón cái và ngón trỏ cầm ngón gảy, các ngón khác khum tròn, cổ tay kết hợp với ngón tay điều khiển móng gảy đánh xuống, hất lên đều đặn, liên tục trên dây đàn gọi là vê, khi vê, đầu móng gảy không nên đặt quá sâu xuống dây đàn vì sẽ làm tiếng đàn đứt quãng không vê được nhanh.
22-Ngón vuốt có vê: Kết hợp giữa ngón vuốt và ngón vê.
 
 

Từ khóa:

tự học

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 20 trong 5 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc